Banner SVHTTDL

Liên kết website

 
Trang chủ » Văn hóa, thể thao và du lịch » Văn hóa » Tác giả - Tác phẩm

Nam Cao hư cấu một số nhân vật điển hình như thế nào

(23/12/2011)
 
            Cho đến thời điểm hiện nay, khoảng trên nửa thế kỷ sau khi truyện ngắn "Chí Phèo" ra mắt công chúng độc giả, hầu hết các nhà nghiên cứu, phê bình văn học đều thống nhất khẳng định Nam Cao là người có vị trí đặc biệt trong lịch sử văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945, một nhà văn tài năng, một người cầm bút có trách nhiệm và đầy tâm huyết với nghề nghiệp của mình. Một trong số những yếu tố dẫn đến tài năng đặc sắc của Nam Cao chính là khả năng hư cấu và điển hình hóa nhân vật theo cách riêng của ông. Cách ấy không có biểu hiện, hoặc biểu hiện rất mờ nhạt trong sáng tác của nhiều nhà văn nổi tiếng đương thời như Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố…
            Theo tài liệu đáng tin cậy của các giáo sư Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức vốn là những chuyên gia hàng đầu của Việt Nam về Nam Cao(1) đặc biệt là theo những tài liệu điền dã mà Lê Hữu Tỉnh đã công bố trên báo "Giáo dục và Thời đại" số 9 năm 1997, thì hầu hết các nhân vật nổi tiếng do Nam Cao sáng tạo, như nhân vật Thứ (Sống mòn), các nhân vật Chí Phèo, Thị Nở, Bá Kiến (Chí Phèo), Lão Hạc, anh con trai Lão Hạc (Lão Hạc), Dì Hảo (Dì Hảo).v.v… đều có một phần thực ngoài đời, thậm chí đều là người làng Đại Hoàng, phủ Lý Nhân. Chẳng hạn, trong truyện ngắn "Lão Hạc”, nhân vật chính cùng tên vốn được xây dựng từ  một ông già có tên Trùm San. Đây là một người theo đạo Thiên Chúa. Chức "trùm" của ông chỉ là do mua danh, theo kiểu "góc chiếu giữa đình" của Ngô Tất Tố, chứ thực ra Trùm San rất nghèo. Hoàn cảnh đời tư của Trùm San éo le, khắc nghiệt đúng như Nam Cao đã miêu tả hoàn cảnh của Lão Hạc trong tác phẩm cùng tên. Chỉ riêng tình tiết tự vẫn bằng bả chó là không phải của Trùm San, mà là của Trùm Luông - một ông già ở gần nhà Trùm San, cũng nghèo "gia truyền", xơ xác như ông này. Ông Trùm San mới chỉ qua hơn 15 năm gần đây, thọ hơn trăm tuổi. Nhân vật anh con trai Lão Hạc vì cảnh ngộ trớ trêu, phải phẫn uất bỏ làng đi làm phu ở đồn điền cao su Nam bộ, ở ngoài đời còn có tên là Thụ, con trai độc nhất của ông Trùm San. Thời ấy, anh Thụ yêu một cô gái cùng xóm, con nhà khá giả. Do tình cảnh nghèo túng, không chạy nổi tiền thách cưới của nhà gái, anh Thụ đăng ký đi phu đồn điền cao su Nam Bộ, rồi mất tích, không có tin tức gì về gia đình. Cho đến cuối đời, ông Trùm San cũng không gặp lại được đứa con trai duy nhất của mình, giống như Lão Hạc đến cuối đời cũng không gặp được đứa con trai duy nhất mà lão hằng hy vọng, chờ mong. Trong truyện ngắn "Chí Phèo" nổi tiếng, nhân vật chính cùng tên được Nam Cao hư cấu từ một người làng Đại Hoàng, có tên là Chí, dân làng quen gọi là Chí Phèo. Người này vốn là kẻ du đãng, ngang ngược, liều lĩnh, thường rạch mặt ăn vạ, và cũng bị bọn cường hào lợi dụng, sai đi đâm chém, đòi nợ. Sau này, khi ngoài 40 tuổi, Chí Phèo chết vì ốm đau và cô độc. Theo các bậc già cả ở làng Đại Hoàng, thì làng này cũng có một người cùng quẫn, liều lĩnh như vậy. Chí Phèo không phải là trường hợp độc nhất. Ngoài nhân vật Chí Phèo, ở truyện ngắn nổi tiếng này còn có một số nhân vật khác như Thị Nở, nhân vật bà cô Thị Nở, nhân vật Bá Kiến… Các nhân vật nói trên cũng đều được hư cấu từ những người có thực ngoài đời. Cụ thể, nhân vật Thị Nở vốn được Nam Cao xây dựng từ một phụ nữ ngoài đời có tên là Nở. Chồng bà Nở tên là Đào. Vợ chồng bà Nở, ông Đào đều có diện mạo xấu xí, dị hình, dị dạng, tính tình nóng lạnh thất thường y như nhân vật Thị Nở trong truyện "Chí Phèo" vậy. Giữa gia đình Nam Cao với gia đình bà Nở, ông Đào có họ ngoại có gần gũi. Bà Nở qua đời năm 1942 trong tình trạng không con cái. Nhân vật bà cô Thị Nở ở ngoài đời là mẹ đẻ ông Đào, tức là mẹ chồng bà Nở. Người này rất khó tính, thích sống cô độc, lại hay xét nét con dâu. Đáng chú ý là nhân vật Bá Kiến. Khi hư cấu Bá Kiến, Nam Cao đã dựa sát vào một cường hào có thực ở làng Đại Hoàng, tên là Bá Bính. Theo tài liệu của Lê Hữu Tỉnh, trong cuộc trò chuyện với ông Trần Hữu Đạt, em ruột Nam Cao, ông này cho biết, Bá Bính ngoài đời cũng nham hiểm, tàn ác, thâm độc, chuyên "ném đá giấu tay", hệt như Bá Kiến trong tác phẩm của Nam Cao, chỉ khác là Bá Bính không bị Chí Phèo đâm chết, mà y mất tích sau kháng chiến chống Pháp. Có người đoán là Bá Bính bỏ chạy vào Nam theo Tây.
Ngoài hai truyện "Lão Hạc", "Chí Phèo", còn phải kể đến truyện ngắn "Dì Hảo" và truyện dài "Sống mòn" của Nam Cao. Nhân vật Dì Hảo trong truyện cùng tên với người ngoài đời tên là Thảo. Người phụ nữ này nghèo kiết xác, tuy không phải là họ hàng thân thích với Nam Cao, song thường đến dệt thuê cho bà ngoại nhà văn, nên được nhà văn quý trọng, coi như em mẹ, gọi là "Dì". Bà Thảo lúc sống cũng khổ cực vì chồng, giống như nhân vật Dì Hảo của Nam Cao. Sau năm 1945, bà Thảo qua đời, không con cái. Một nhân vật khác, rất đáng lưu tâm là nhân vật Thứ trong "Sống mòn". Đây chính là hình bóng của Nam Cao thời trẻ, mang tính chất tự truyện. Còn nhân vật Liên - vợ giáo Thứ, chẳng phải ai xa lạ mà chính là hình ảnh được "nghệ thuật hoá" của người vợ Nam Cao, tên là Trần Thị Sen. Tên nhân vật vợ Thứ cũng trùng với tên vợ Nam Cao, chỉ khác là một đằng gọi theo âm thuần Việt (Sen), còn một đằng gọi theo âm Hán Việt (Liên).
Ngay cả cái làng Vũ Đại trong truyện "Chí Phèo" cũng chỉ là hình ảnh thăng hoa của làng Đại Hoàng theo cách đọc chệch nhà văn về tên làng quê mình.
Hiện tượng trùng hợp đến kỳ lạ giữa hàng loạt nhân vật điển hình của Nam Cao với hàng loạt nhân vật ngoài đời ở làng Đại Hoàng - quê ông, khiến người đọc phải suy nghĩ và rút ra những điều chiêm nghiệm, tâm đắc về đặc điểm sáng tạo riêng của nhà văn. Đặc điểm sáng tạo nổi bật của Nam Cao là, trong khi xây dựng các nhân vật trong hàng loạt tác phẩm hiện thực như "Chí Phèo", "Dì Hảo", "Lão Hạc", "Sống mòn" và một số truyện ngắn khác (Trăng sáng, Đời thừa, …), Nhà văn đã dựa khá sát vào những mẫu người có thực ngoài đời. Có lúc là người cùng làng Đại Hoàng, có lúc là người thân thiết của Nhà văn (vợ, cậu, mợ, cô, dì), thậm chí là bản thân Nhà văn. Điều lạ lùng là trong số các nhân vật hiện thực do Nam Cao hư cấu, có không ít nhân vật trùng cả họ tên, gia cảnh, tính cách với những người trong xã hội như Chí Phèo, Thị Nở, Liên (vợ giáo Thứ), Bá Kiến… Đây là thực tế hiếm thấy trong sáng tác của các nhà văn hiện thực đương thời như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Lan Khai, Thạch La … Các nhà văn này khi xây dựng nhân vật, tuy có gửi gắm tâm sự của mình (nhân vật Vân Hạc trong "Lều chõng" của Ngô Tất Tố, nhân vật anh Pha trong "Bước đường cùng" của Nguyễn Công Hoan, nhân vật Hải Vân trong "Giông tố" của Vũ Trọng Phụng), nhưng không dựa trên một mẫu người cụ thể nào ngoài đời. Duy nhất, có một tác phẩm "Những ngày thơ ấu" của Nguyên Hồng là hư cấu nhân vật chính từ chính bản thân tác giả, song xét về thể loại, tác phẩm này mang dáng dấp một hồi ký văn học nhiều hơn là một truyện vừa. Đã là hồi ký, là tự truyện, thì đương nhiên phải kể và tả bản thân mình.
Thông thường, khi xây dựng nhân vật, khi tạo tình huống để nhân vật vận động, các nhà văn phần lớn đều dựa vào nhiều điển hình xã hội để lựa chọn, khái quát, tái tạo theo một mẫu hình lý tưởng nhất định. Biêlinxki quan niệm: điển hình văn học là người lạ, quen biết. Còn Lỗ Tấn thì phát biểu một cách hóm hỉnh rằng, nhân vật của ông có tà áo Nam Kinh, cái cúc Chiết Giang, cái miệng Thượng Hải và đôi mắt Phúc Kiến. Có thể hiểu một cách ngắn gọn ý kiến của các nhà kinh điển trên là: các nhân vật văn học được hư cấu trên cơ sở lựa chọn, tổng hoà nhiều mẫu người xã hội, chứ không dựa vào một con người cụ thể nào. Nếu so sánh với cách xây dựng nhân vật của Nam Cao, chúng ta dễ dàng nhận thấy một thực tế có vẻ ngược chiều: Nhiều nhân vật tiêu biểu của Nam Cao được hư cấu từ một mẫu người cụ thể. Đôi khi người đọc có cảm giác các nguyên mẫu xã hội đã bước thẳng vào những trang viết của nhà văn mà ông không phải đầu tư nhiều công sức gia công, gọt rũa. Do cách hư cấu nhân vật rất riêng của Nam Cao mà người đọc có thể cảm nhận được các nhân vật điển hình của ông như Chí Phèo, Lão Hạc, Thị Nở, Dì Hảo, Bá Kiến, … nặng tính cá thể hoá nhiều hơn tính khái quát hoá. Ngược lại, các nhân vật điển hình của Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng, Lỗ Tấn (Trung Quốc) như chị Dậu, Nghị Quế, anh Pha, Nghị Lại, Tám Bính, Năm Sài Gòn, AQ lại nặng tính khái quát hoá hơn tính cá thể hoá.
Mặc dù dựa khá sát vào các mẫu người xã hội nhưng Nam Cao không sao chép, "chụp ảnh" hiện thực. Tài năng của Nam Cao biểu hiện ở chỗ, ông biết khai thác, lựa chọn những khía cạnh, đặc điểm của hiện thực, rồi nhào luyện lại theo quy luật điển hình hoá của văn học. Ngay cả, trong trường hợp Nam Cao hư cấu nhân vật trực tiếp từ một mẫu người cụ thể, trùng cả họ, tên, thì ông cũng chỉ lựa chọn những tình tiết cần thiết, còn gạt lại những tình tiết nào đó, mà nếu đưa vào tác phẩm, sẽ không có lợi cho việc bộc lộ tư tưởng chủ đề. Chẳng hạn, khi xây dựng nhân vật Lão Hạc, Nam Cao thêm vào tình tiết ăn bả chó vốn không có ở người thực ngoài đời là Trùm San, khiến câu chuyện trở nên thương tâm hơn, ý nghĩa tố cáo xã hội thực dân nửa phong kiến đậm nét hơn. Hay như khi xây dựng nhân vật Chí Phèo, Nam Cao đã sử dụng thủ pháp độc thoại nội tâm, thủ pháp tả cảnh để tả tình, tình tiết giết kẻ thù và tự giết mình ở cuối truyện, khiến cho tầm tư tưởng của tác phẩm được nâng cao hơn, day dứt người đọc hơn. Đây vốn là những tình tiết không có ở Chí Phèo ngoài đời (người này chết vì ốm đau, cô độc). Cá biệt, có trường hợp khi xây dựng nhân vật Bá Kiến, Nam Cao dường như chỉ đổi tên, còn giữ lại gần như toàn bộ tính cách của Bá Bính. Song không vì thế mà Bá Kiến của Nam Cao giảm đi tính độc đáo. Trái lại, đây là một điển hình phản diện tiêu biểu nhất của văn học hiện thực phê phán Việt Nam. Do biết khai thác, lựa chọn những tình tiết, đặc điểm cần thiết ở mẫu người hiện thực, để hư cấu nhân vật, nên Nam Cao đã sáng tạo nhiều nhân vật văn học độc đáo mà vẫn có tính khái quát cao.
Cái gì đã chi phối cách hư cấu nhân vật của Nam Cao? Theo suy nghĩ của chúng tôi, chính quan niệm nghệ thuật đã chi phối tâm lý và cá tính sáng tạo của nhà văn. Mượn lời một số nhân vật trong “Trăng sáng” và “Đời thừa”, Nam Cao quan niệm: “Nghệ thuật không cần là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối; nghệ thuật chỉ có thể là tiếng đau khổ thoát ra từ những kiếp lầm than…”. Văn chương, theo ông, chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có. Có thể hiểu ngắn gọn quan điểm nghệ thuật của Nam Cao là phải phản ánh sự thật cuộc sống và phải biết sáng tạo. Với Nam Cao, phản ánh hiện thực tức là cần phải hướng ngòi bút vào những cuộc đời, những cảnh đời đau khổ, lầm than bằng tất cả tính toàn vẹn của nó, không tô vẽ. Nhờ lối quan sát tinh tế, nhờ sử dụng một ngôn ngữ “gân guốc, sắc sảo và soi mói” ( chữ của Giáo sư Lê Đình Kị), giàu tính tạo hình, giàu chất suy tư và một cấu trúc câu “gọn, đanh, khỏe” (chữ của Giáo sư Hà Minh Đức) trong khi kể và tả đối tượng, mà Nam Cao đã tạo cho thế giới nhân vật của mình những đường nét thực đến mức người đọc tưởng như đã gặp những nhân vật này ở đâu đó trong đời sống hàng ngày. Cái “hàng ngày” đã chiếm vị trí chủ đạo trong tái tạo hiện thực cua Nam Cao.
Mỗi nhà văn tài năng đều có một quan niệm, một cái nhìn riêng đối với hiện thực và điều đó đã chi phối hư cấu nhân vật, cách tái tạo hiện thực trong sáng tác của họ. Riêng đối với Nam Cao, việc dựa sát vào mẫu người có thực ở làng Đại Hoàng, khai thác cái “hàng ngày” của đối tượng theo tinh thần khách quan, theo quy luật điển hình hóa đã đem lại cho tác phẩm của ông, thế giới nhân vật của ông những ánh sắc, đướng nét mới mẻ, hấp dẫn độc giả. Có thể xem đây là một trong nhiều đóng góp của Nam Cao vào văn học hiện thực giai đoạn 1930 -1945 nói riêng, vào tiến trình văn học Việt Nam hiện tại nói chung.
 
 
 


 

(1) Bài giảng chuyên đề cho NCS khóa V - 1986
Tập san Văn hoá
VBQPPL
TTHC
Lịch Tiếp Dân
Dịch Vụ Công
Danh bạ thư điện tử
Footer SVHTTDL
Skip to main content