Banner SVHTTDL

Liên kết website

 

Cặp Núi/Sông tiêu biểu phía Bắc, phía Nam tỉnh Hà Nam

(05/08/2011)
          Nhiều tỉnh, thành phố thường chọn cho địa phương mình cặp biểu tượng nước - non tiêu biểu, chẳng hạn: Thủ đô Hà Nội - núi Nùng/sông Tô; Nam Định - non Côi / sông Vị; Ninh Bình - núi Thuý/sông Vân; Hà Tây (cũ) - núi Tản/sông Đà; Hà Tĩnh -núi Hồng/sông Lam...
                Đã ăn sâu vào tiềm thức nhân dân Hà Nam từ lâu đời, nhiều người gần xa đều biết biểu tượng núi Đọi - sông Châu. Song qua nghiên cứu nhiều mặt (phong thuỷ, thiên nhiên, lịch sử, văn hóa...) cố giáo sư Trần Quốc Vượng - Nhà sử học, Nhà văn hóa học đã nêu ý kiến: có thể coi núi Quế/ sông Ninh là cặp nước/ non tiêu biểu nữa của tỉnh Hà Nam ở phía Nam, cùng với biểu tượng núi Đọi/ sông Châu ở phía Bắc tỉnh. Theo những nghiên cứu địa chất học, nguồn gốc hình thành núi Đọi và núi Quế đều do vận động tạo sơn Anpơ cách nay khoảng 70 triệu năm, nâng ghềnh đá phía nam sông Hồng đã đẩy nham thạch từ lòng đất sâu đùn lên thành những ngọn núi độc lập giữa đồng bằng. Còn sông Châu, sông Ninh là kết quả sụt nún của vỏ trái đất bởi hoạt động tân kiến tạo, thời gian tính bằng triệu năm cách ngày nay.
         Biểu tượng núi Đọi/ sông Châu
                Cặp núi/ sông này từ xưa đã thấu thị, ánh xạ, hội tụ nhiều giá trị: thiên nhiên, kinh tế, lịch sử, văn hóa. Từ chiều sâu thời gian, lịch sử, núi Đọi/ sông Châu là sự hoà hợp âm/ dương, phản ánh thế lưỡng phân, lưỡng hợp của triết lý phương Đông cổ đại, dương (núi Đọi), âm (sông Châu) tương quan, tương thích với nhau.
                Núi Đọi hiện nay thuộc địa phận xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, nằm ở giữa xã, cao gần 400 mét, chu vi chân núi khoảng 2500 mét. Từ trên đỉnh núi phóng tầm mắt nhìn bốn phía, du khách thấy phong cảnh thật nên thơ: cánh đồng, bãi ngô, ruộng lúa... mượt mà, tươi xanh. Trên núi trồng nhiều loại cây, nhất là cây chè xanh có hương vị riêng, được nhiều người ưa chuộng. Theo thám sát nghiên cứu khảo cổ học, những ngôi mộ cổ từ thời Đông Sơn, đến Hán, Hậu Lê gần/ quanh núi Đọi, đầu mộ đều quay vào núi. Điều đó cho thấy từ rất lâu rồi núi Đọi đã là trái núi “thiêng”. Tên núi từ trước thời Lý, không thấy sách nào ghi chép. Đến đầu thời Lý, văn bia Bảo tháp Sùng Thiện Diên Linh cho biết núi có tên là “Long Lĩnh” (ngọn rồng). Rồi đến vua Lý Nhân Tông thể theo lời tâu bày của quần thần đặt tên núi là Long Đội Sơn (hàng rồng) thì sự “thiêng hóa” đã được thăng trội. Suốt trong thời Lý, Long Đội Sơn được coi là “Tiền án” của Kinh thành Thăng Long, dấu ấn phong thuỷ và biểu tượng của quyền lực đế vương. Từ danh xưng Long Đội Sơn, về sau dân gian quen gọi là núi Đọi, có lẽ hình dáng núi giống cái bát úp (bát tên cổ là Đọi); song 9 giếng nước vòng quanh núi, dân gian vẫn tôn là 9 mắt rồng, sự linh thiêng của núi vẫn không hề mất.
                Núi Đọi còn giữ vị thế quan trọng trong lịch sử: Mùa xuân năm 987 vua Lê Đại Hành về làm lễ cày tịch điền dưới chân núi, mở đầ mỹ tục khuyến nông. Đây cũng là một trong những trung tâm Phật giáo thời Lý, một Đại danh lam kiêm hành cung của vua. Đời vua Lý Thái Tông, Tể tướng Dương Đạo Gia xây chùa trên núi cho nhà sư Đàm Cứu Chỉ - bậc cao tăng trụ trì. Nhà vua Lý Nhân Tông mở rộng qui mô, đặc biệt là xây cây Bảo tháp Sùng Thiện Diên Linh cao 14 tầng, tạc tấm bia lớn nhất, đẹp nhất, nội dung phong phú nhất thời Lý (so sánh với các bia thời Lý còn lại ở nước ta).
                Chùa Đọi quay mặt ra sông Kinh, tên thời Lý của sông Châu hiện nay, sở dĩ có tên này xuất xứ từ huyền thoại về một loài trai sinh ra ngọc, vỏ làm xà cừ rất đẹp sống trong sông. Nhưng tên sông Châu có từ bao giờ thì chưa khảo cứu được. Sông Châu là chi lưu của sông Hồng, cửa vào/ nhận nước trên đất hai xã (xã Trác Văn, huyện Duy Tiên bên hữu ngạn;  xã Chính Lý, huyện Lý Nhân bên tả ngạn). Sông phân nhánh ở ngã ba thuộc địa phận ba xã: Tiên Phong (huyện Duy Tiên), Văn Lý (huyện Lý Nhân) và Bình Nghĩa (huyện Bình Lục). ở ngã ba này hội tụ các giá trị văn hóa, lịch sử quý báu. Văn hóa ẩm thực có gà Móng (Tiên Phong), quýt cơm Văn Lý, mía Ngô Khê (Bình Nghĩa); dân ca ngã ba sông Móng xa gần đều biết tiếng. ở đây có di tích thờ tướng của Hai Bà Trưng kiên cường chống quân Đông Hán (40 - 42): Nguyệt Nga phu nhân (thôn An Mông, xã Tiên Phong). Ông Võ Lược, ba bà Hồng Vân, Hồng Nương, Nga Nương (thôn Gòi, xã Bình Nghĩa).
                Sông Châu chảy qua 28 xã, phường thị trấn trên tất cả 4 huyện Duy Tiên, Thanh Liêm, Bình Lục, Lý Nhân và thành phố Phủ Lý. Tuy không chảy trên đất huyện Kim Bảng nhưng dòng chính (nhánh chính) đổ nước (cửa ra) vào sông Đáy chảy từ hướng huyện Kim Bảng tới.
                Có thể nói: sông Châu là con sông riêng của Hà Nam, vì thuỷ trình phần lớn trên đất Hà Nam, chỉ ở đoạn cuối của nhánh thứ hai (dài hơn nhánh chính rất nhiều) làm ranh giới tự nhiên giữa hai tỉnh Hà Nam, Nam Định, bên tả ngạn là các xã An Ninh (huyện Bình Lục), Tiến Thắng, Hoà Hậu (huyện Lý Nhân), bên hữu ngạn là 4 xã của huyện Mĩ Lộc, tỉnh Nam Định (Mĩ Hà, Mĩ Thắng, Mĩ Phúc, Mĩ Trung). Đến đây sông Châu đổ nước ra sông Hồng (cửa ra thứ 2) gọi là cửa Hữu Bị, bên tả xã Hoà Hậu (huyện Lý Nhân), bên hữu xã Mĩ Trung (huyện Mĩ Lộc). Ngày xưa, cửa này có tên Tuần Vường, hiểm trở nổi tiếng, vũng sâu, nước xoáy hun hút: “Mười hai cửa bể cũng nể Tuần Vường”, “Nhất cao là núi Tản Viên, nhất sâu là vũng Thuỷ Tiên, Cửa Vường”. Thuyền bè qua lại rất sợ bị lật, đắm nên phải cầu đảo. Kẻ xâm lược chưa bao giờ qua cửa Tuần Vường. Điều thú vị là ở đoạn mút của sông Châu này, bên xã Hoà Hậu sản sinh giống chuối Ngự Đại Hoàng tiến vua, quýt đỏ Tảo Môn, hồng không hạt, rồi còn món cá kho ngon nổi tiếng khắp nơi. ở đất xã Hoà Hậu cũng có đền thờ nổi tiếng thời Hai Bà Trưng và là quê hương Nhà văn liệt sĩ Nam Cao, Nhà báo Hoàng Tùng.
                Sông Châu - dòng sông kinh tế, cung cấp nước tưới và tiêu úng cho đồng ruộng ven bờ. Xưa, khi chưa bị ngăn dòng, sông Châu nhận lượng nước phù sa rất lớn của sông Hồng bồi đắp màu mỡ cho ruộng đồng, bãi mía, nương dâu, những rặng nhãn, vườn chuối sum xuê... Thuỷ sản sông Châu dồi dào: Cá, tôm, cua, trai, hến... ngon, béo. Nhiều làng chài sinh sống trên sông, đến nay còn bám trụ như làng chài Vạn Nghệ (xã Văn Lý, huyện Lý Nhân). Sông Châu, con đường giao thương, xưa có đò dọc với 5 bến chính mà bến Lê Xá (xã Châu Sơn, huyện Duy Tiên) quê hương Nhà thơ Kép Trà là một. Nhiều bến đò ngang nối đôi bờ Châu Giang. Bến đò Câu Tử (xã Đinh Xá, huyện Bình Lục - xã Châu Sơn, huyện Duy Tiên) góp vào dân ca Hà Nam điệu hát “Mụa” kể về mối tình của viên tướng trẻ thời Tiền Lê và cô lái đò trẻ trung xinh đẹp, say đắm mà lỡ dở.
                Sông Châu - dòng sông di sản của lịch sử và văn hóa. Đôi bờ sông dày đặc di tích thờ các vị có công với dân với nước suốt trong các thời đại từ thời Hùng Vương đến thời kỳ cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, nhiều di tích là công trình kiến trúc - nghệ thuật đặc sắc, 15 di tích đã được xếp hạng cấp quốc gia, cấp tỉnh, trải dài từ đầu nguồn đến hạ lưu.
                Sông Châu vừa là sông Mẹ vừa là sông Con: Sông Con của sông Hồng, sông Mẹ của các chi lưu. Nghiên cứu thuỷ văn cổ, qua sử sách và khảo sát dấu tích còn lại của các ao, hồ, đầm, khe, ngòi... có thể nhận diện được khá nhiều sông con nhận nước sông Hồng đổ vào sông Châu, chưa kể dòng chính trực tiếp nhận nước từ sông Mẹ, đáng lưu ý là sông Lảnh (huyện Duy Tiên), sông Long Xuyên (huyện Lý Nhân). Với vai trò sông Mẹ, sông Châu chia nước cho nhiều phụ lưu bên hữu ngạn, đáng lưu ý có: Sông Thiên Mạc (cửa vào ở xã Trác Văn, huyện Duy Tiên), sông Mang (cửa vào ở xã Yên Nam, huyện Duy Tiên), sông Tái Kênh (cửa vào ở xã Đinh Xá, huyện Bình Lục), sông Sặt (cửa vào ở xã Hưng Công, huyện Bình Lục), sông Ninh (cửa vào trên ngã ba thuộc ba xã An Ninh (huyện Bình Lục), Tiến Thắng(huyện Lý Nhân), Mĩ Hà (huyện Mĩ Lộc, Nam Định).
                Người xưa đã liên kết tính chất linh thiêng của cặp núi Đọi/ sông Châu bằng bài phương ngôn:
Đầu gối núi Đọi
Chân dọi Tuần Vường
Phát tích đế vương
Lưu truyền vạn đại
                Lắng hồn sông núi, thẩm nhận chất thiêng chính là con người Hà Nam, với một ước mơ, có thể nói là siêu trội.
 
        Núi Quế/ Sông Ninh
                ở ranh giới phía Nam của tỉnh Hà Nam, cặp nước/ non này đã từng lưu/ in danh trong sử sách.
                Núi Quế, tên gọi có 2 giả thuyết: Một do trên núi có bàn cờ tiên, các nàng tiên trên cung quế của vầng trăng thường xuống du ngoạn đánh cờ; hai vì trên núi xa xưa có rừng quế thơm. Ngoài tên gọi này, núi còn mang sơn danh: Nguyệt Hằng Sơn, Tượng Sơn (hình giống con voi phục), An Lão, hay Lão Sơn (tên làng).
                Núi Quế cao gần 100m, diện tích 12,84 ha, bằng những phát hiện khảo cổ học, khảo cứu tư liệu cổ, truyền thuyết dân gian và điều tra thực địa... đã cho thấy vị thế quan trọng của núi đối với lịch sử, văn hóa Hà Nam. Trên sườn núi và quanh chân núi đã tìm thấy trống đồng Đông Sơn (cùng loại I Hêgơ với trống đồng Ngọc Lũ), bôn đá, khuôn đúc, đồ đất nung, mộ Đông Hán... cho thấy nơi này là địa bàn tụ cư rất sớm của người Việt Cổ.
                Việt sử lược - cuốn sử biện soạn dưới thời Trần chép: "Năm Kỷ Mão, hiệu Hội                   Phong thứ 8 (1099) đời vua Lý Nhân Tông vào tháng 9 xây chùa ở núi An Lão". Hỏi chuyện bậc cao niên làng An Lão các cụ cho biết: Trước đây trên núi có ngôi chùa cổ 5 gian bày 6 pho tượng bằng đá khoảng năm 1951, quân Pháp phá chùa, đập nát tượng, xây bốt để khống chế vùng du kích phía nam Bình Lục. Chúng tôi đã điều tra dấu tích về ngôi chùa này, nhưng chỉ tìm được một số viên gạch, có lẽ dùng để xây tường. Theo các cụ, chùa này là chùa Trung. Hiện nay trên núi còn một ngôi chùa nữa rất độc đáo, chưa gặp ở đâu, quy mô nhỏ với ba gian đục thẳng vào vách đá thành 3 ô đặt các bát hương để con nhang, phật tử đến hành lễ. Dân làng An Lão gọi tên là chùa Cao vì ở trên đỉnh núi, còn có tên chùa Thượng, niên đại xây dựng chùa có người nói: Thời Lý, người nói: thời Trần, người nói: thời Nguyễn, vấn đề còn cần khảo cứu thêm. Cách núi không xa (khoảng 100m) về phía Tây hiện có ngôi chùa Hạ to đẹp (tên chữ là "Trùng Quang Tự"). ở sườn núi phía Tây Bắc, toạ lạc ngôi đình thờ Hồ Tố Đại Vương. Đời Vua Trần Nhân Tông, giặc Nguyên sang xâm lược, ông cùng Trần Hưng Đạo đại thắng giặc trên sông Bạch Đằng. ở chân núi Quế, về phía Nam dân gian truyền tụng có khoảnh ruộng rộng (theo soạn giả Ngô Vi Liễn (1894 - 1945) là 30 mẫu) xưa cấy giống lúa "câu cánh" cho gạo thơm ngon dùng để tiến vua. Quanh núi có các địa danh, gợi lên vấn đề cần nghiên cứu, liên quan đến hành cung ứng Phong thời Lý, như: Đồng Thuyền Ngự, Đồng Cổ Bồng, cánh Chiếu Buồm, cầu Phướn, cầu Mắm.
Núi Quế - thắng cảnh, sách xưa ghi chép: "Núi Lão ở huyện Bình Lục, đá núi cao chót vót hình tựa cái tán, lên đỉnh nhìn 4 hướng mênh mông". Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm thăm thú nơi đây đã làm bài thơ đề vịnh lưu truyền cho hậu thế (tạm dịch):
Vùng Nam từ xưa địa dư mênh mông
Đầu núi An Lão một thắng cảnh
Đỉnh núi trùng trùng màu xanh biếc
Sông mênh mang tựa gấm đổ về.
Tên núi gợi lên ngẫm ngợi về yếu tố phong thuỷ, huyền thoại nòi giống dân tộc Việt "con rồng, cháu tiên" cùng vật chứng trên núi trong mối liên hệ với núi Đọi. Núi Đọi thời Lý là biểu tượng rồng của đế vương, tiền án của kinh thành Thăng Long về phía Nam, đồng thời gợi liên tưởng dân Việt thuỷ tổ vốn là con rồng. Tượng Sơn (tên gọi khác của núi Quế) và phiến đá ông Voi có thể cho ý niệm về quần thần và ấn phong thuỷ canh gác phía trước tiền án núi Đọi. Quế Sơn, Nguyệt Hằng Sơn cùng bàn cờ tiên, giếng tiên gợi liên tưởng dân tộc ta là cháu tiên từ huyền thoại cổ.
Sông Ninh là chi lưu của sông Châu cửa nhận nước (cửa vào) ở ngã ba thuộc các xã An Ninh (huyện Bình Lục), Tiến Thắng (huyện Lý Nhân), Mỹ Hà (huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định). Sông dài 29km chạy theo hướng Đông - Tây một đoạn, rồi chuyển hướng Bắc - Nam qua các xã An Ninh, Vũ Bản, Trung Lương, Tiêu Động, An Lão, là ranh giới phía Nam của huyện Bình Lục với 2 huyện Mỹ Lộc, Vụ Bản tỉnh Nam Định. Đến thôn Mỹ Đô, xã An Lão sông chảy sang đất xã Yên Tân và hợp lưu với sông Đáy ở xã Yên Phú (huyện ý Yên, tỉnh Nam Định). Trong thư tịch cổ và một số bản đồ thời Pháp sông Ninh còn có tên gọi là sông Lý Nhân.
Sông Ninh - dòng sông lịch sử, theo ghi chép của thư tịch cổ, các vua nhà Lý nhiều lần đến hành cung Lý Nhân (trên đất xã Phú Phúc, huyện Lý Nhân hiện nay) từ kinh thành Thăng Long, tuyến đường thuỷ thuận tiện, an toàn có lẽ là từ sông Tô Lịch rồi vào sông Nhuệ, sông Thiên Mạc, sông Châu, xuôi sông Đáy, ngược sông Ninh đến đầu nguồn sông này ngược sông Châu một đoạn vào một con sông cũng mang tên sông Lý Nhân chảy qua xã Phú Phúc - nơi có hành cung, đến xã Nhân Thịnh để nhận nước của sông Hồng (cửa vào).
Các cuốn sử cũ như “Việt sử lược”, “Đại Việt sử ký toàn thư” ghi chép cụ thể các lần vua Lý đến hành cung Lý Nhân. Vua Lý Thái Tông sau khi chiến thắng quân Chiêm Thành đã đến hành điện Lý Nhân vào tháng 9 năm 1044. Vua Lý Thánh Tông đến hành cung Lý Nhân xem gặt lúa và đua thuyền vào tháng 6 năm 1067. Vua Lý Nhân Tông 4 lần đến hành cung Lý Nhân vào tháng 10 năm 1077, tháng 10 năm 1080, tháng 6 năm 1101, tháng 6 năm 1125 để xem dân gặt lúa, gieo hạt. Vua Lý Thần Tông đến hành cung xem gặt lúa vào tháng 10 năm 1137. Đặc biệt vua Lý Anh Tông, hai lần cày ruộng tịch điền ở hành cung Lý Nhân vào tháng 2 năm 1146 và tháng 2 năm 1148 cũng chính nhà vua cho xây dựng thêm công trình kiến trúc của hành cung vào tháng 11 năm 1149, tháng 11 năm 1154.
Sang thời Trần, sông Ninh là một chốt nước quan yếu, bảo vệ mặt Bắc hành cung Thiên Trường. Bên bờ sông Ninh, triều đình ban thái ấp Quắc Hương (nay thuộc làng Vọc, xã Vũ Bản, huyện Bình Lục) cho Thái sư Trần Thủ Độ là nhằm mục đích này. Tiếp nối đến thời Hậu Lê, sau khi chiến thắng quân Minh, Lê Thái Tổ (Lê Lợi) đã ban "Lộc điền" thưởng cho các tướng Lê Sao, Lê Thọ Vực, Lê Lạn trên đất hai xã Tiêu Động, An Lão ngày nay.
Cũng như sông Châu, sông Ninh đem lại nguồn lợi kinh tế cho dân cư với thuỷ sản phong phú, ven bờ sông Ninh thuộc huyện Bình Lục, xóm làng đông đúc, thuyền bè ngược xuôi trên sông. Di tích lịch sử văn hoá khá dày, đủ các thời kỳ, loại hình đa dạng.
Non nước Hà Nam được thiên nhiên ban tặng, con người bồi đắp, giàu giá trị tự nhiên, lịch sử, xã hội, văn hoá mà trội vượt là cặp biểu tượng Núi Đọi/ Sông Châu và Núi Quế/ Sông Ninh.
 
Tập san Văn hoá Hà Nam
VBQPPL
TTHC
Lịch Tiếp Dân
Dịch Vụ Công
Danh bạ thư điện tử
Footer SVHTTDL
Skip to main content